LỜI TỰA

 

Tác phẩm có trên tay quý vị là Bản Công Văn - Thủ Bút của chính Hòa Thượng Thích Giác Tiên, vị Tổ khai sơn Chùa Trúc Lâm ở Dương Xuân Sơn, thành phố Huế, và là người khai sáng Hội An Nam Phật Học. Biên dịch giả có nhân duyên với thư tịch nầy đã rất lâu, từ khi du học tại Nhật Bản. Khi ấy, trong một dịp về Việt Nam vào năm 1994 để thâu tập tài liệu viết luận án Tiến Sĩ, tôi nhận được thư tịch nầy tại Chùa Trúc Lâm; nhưng chưa đọc kỹ nên không biết tác giả là ai. Tác phẩm nầy vẫn nằm yên đó trên giá sách của tôi với năm tháng trôi qua. Mãi cho đến sau khi quyển Sớ Điệp Công Văn tập I ra đời, trong khi tiếp tục tiến hành tập II, tôi mới lấy thư tịch nầy ra để đánh các văn bản chữ Hán vào máy vi tính, bỗng nhiên tôi phát hiện ra đây là tác phẩm của Tổ Giác Tiên.

Vừa mừng rỡ vừa hồi hộp, tôi quyết định gác lại hết các công trình khác và bắt tay vào việc điều nghiên thư tịch quý giá nầy với tâm nguyện duy nhất là giới thiệu cùng độc giả những giá trị to lớn của tác phẩm về mặt văn hóa và tín ngưỡng của Phật Giáo Việt Nam trong thời đại triều Nguyễn, về tầm quan trọng của nghi lễ Phật Giáo trong cuộc sống tâm linh của con người, từ vua quan đến bình dân bá tánh, thông qua các lòng văn Sớ, Điệp, Hịch, Trạng, v.v., được biên soạn trong đó.

Tất nhiên, không thể nào tránh khỏi những khó khăn khi xử lý văn bản. Trước hết, đó là thư pháp. Hiện tại, tôi có được một số thủ bản viết về các khoa nghi hành trì Chẩn Tế, Giải Oan Bạt Độ, v.v., của chư vị tôn đức ở Huế ngày xưa; nhưng nếu so sánh về thư pháp của các thư tịch đó với bản này, phải nói rằng của Tổ Giác Tiên rất tuyệt hảo. Ngay từ ban đầu, khi chưa quen với thư pháp của ngài, tôi đã phải lúng túng với một số chữ Thảo trong đó; nhưng với quyết tâm và thành kính nguyện cầu ngài gia hộ cho, cuối cùng tôi đã may mắn vượt quả cửa ải nầy. Có lẽ đây là cửa ải khó khăn nhất mà nếu không qua được thì ai cũng sẽ phải chán nản và bỏ cuộc ngay. Tiếp theo là tìm hiểu văn phong, thu thập tài liệu tham khảo, hình ảnh dẫn chứng, v.v., liên quan đến tác phẩm. Cuối cùng, nhờ anh linh Tổ thùy từ gia hộ, cùng những ngoại hộ thuận duyên, nên vạn sự được hanh thông và tác phẩm có thể đến với quý độc giả như thế nầy.

Nhân đây, xin có vài nhận xét về thư tịch nầy như sau:

Xác định tác giả

Phần cuối của chương Cách Xưng Hô Các Tháng Trong Năm, có dòng chữ ghi là “Trúc Lâm lãn nạp thông sao (竹林懶衲通抄, nạp tăng Chùa Trúc Lâm ghi trọn).” Đây là đầu mối để có thể xác định tác giả của thư tịch nầy là ai. Có 3 cơ sở để khẳng định đó là Tổ Giác Tiên.

1. Thứ nhất, nếu nói về “Trúc Lâm lãn nạp (dịch nôm na là tu sĩ lười biếng Chùa Trúc Lâm)” thì có 2 trường hợp: ngài Giác Tiên và Hòa Thượng Mật Hiển (đệ tử của ngài Giác Tiên). Nếu xét về dấu ấn đóng trong sách với dòng chữ “Trừng Thành Chí Thông (澄誠至通)”, thì đúng với pháp danh của Tổ là Trừng Thành và pháp hiệu là Chí Thông.

2. Thứ hai, nếu đối chiếu với một số bức thư pháp của Tổ được khắc trên gỗ, tre hiện đang an trí tại Chùa Trúc Lâm, có nhiều chữ tương đồng với thủ pháp trong văn bản nầy.

3. Thứ ba, về cách tự xưng, Tổ là bậc cao đức, văn phong lưu loát, làu thông các thánh điển về Nho, Lão, Phật mà chúng ta sẽ được dịp thưỡng lãm trong phần nội dung của thư tịch nầy; tuy nhiên, ngài vô cùng khiêm hạ và tự xưng mình là “Trúc Lâm lãn nạp”. Lại nữa, trên các bản khắc gỗ, tre ghi các câu thơ của ngài sáng tác, phía bên tái nhìn vào luôn có hàng chữ “Tương Khê (湘谿)” hay “Tương Khê chuyết thủ (湘谿拙手, Tương Khê vụng ghi).” Tương Khê là bút hiệu của Tổ.

Về niên đại văn bản

Trong thư tịch nầy không có ghi lời giới thiệu, mục lục nội dung và niên đại rõ ràng; nhưng thông qua một số chi tiết bên trong các lòng văn cúng, chúng ta có thể biết được niên đại của nó.

  1. Cuối bài Bia Minh Tháp cho Hòa Thượng Vĩnh Gia, chùa Phước Lâm, Hội An, có đoạn rằng: “Hoàng triều Khải Định Kỷ Mùi Phật Thành Đạo nhật, Xuân Kinh Thiên Hưng tự Thích Huệ Pháp bái chí (皇朝啟定己未佛成道日、春京天興寺釋慧法拜識, vào ngày mồng 8 tháng chạp năm Kỷ Mùi [1919], đời vua Khải Định, Thích Huệ Pháp chùa Thiên Hưng, kinh đô Huế, kính ghi).”
  2. Cuối lòng văn Hoàng Đế Nhị Tôn Khai Kinh Sớ (皇帝二尊開經疏), có ghi rằng: “Khải Định ngũ niên, tuế thứ Canh Thân tứ nguyệt thập nhật, đệ tử Sa môn Thanh Thái hòa nam thượng sớ (啟定五年歲次庚申四月十日。弟子沙門清泰和南上疏, ngày mồng 10 tháng 4 năm Canh Thân [nhằm ngày 27 tháng 5 năm 1920], niên hiệu Khải Định thứ 5, đệ tử Sa môn Thanh Thái kính thành dâng Sớ)”; nghĩa là trai đàn được kiến lập tại Kiên Thái Vương Từ, Quận Công Từ, v.v., vào năm 1920.
  3. Cuối lòng văn Quận Công Từ Khai Kinh Sớ (郡公祠開經疏), cũng có ghi gần giống với nội dung trên: “Khải Định ngũ niên, tuế thứ Canh Thân tứ nguyệt thập nhật, đệ tử Sa môn Thanh Trí thượng sớ (啟定五年歲次庚申四月十日弟子沙門清智上疏, ngày mồng 10 tháng tư năm Canh Thân [nhằm ngày 27 tháng 5 năm 1920], niên hiệu Khải Định thứ 5, đệ tử Sa môn Thanh Trí kính thành dâng Sớ).”
  4. Cuối lòng văn Đại Giá Như Tây Hồi Loan Hoàn Kinh Chúc Hỗ Sớ (大駕如西回鑾完經祝嘏疏), cũng ghi rằng: “Khải Định thất niên, tuế thứ Nhâm Tuất bát nguyệt sơ nhất nhật, đệ tử đẳng kiền thành hòa nam thượng sớ (啟定七年、歲次壬戌八月初一日、弟子等虔誠和南上疏, ngày mồng 1 tháng 8 năm Nhâm Tuất [nhằm ngày 21 tháng 9 năm 1922], niên hiệu Khải Định thứ 7, đệ tử chúng con chí tâm kính thành dâng Sớ).”
  5. Một thông tin khác trong Tụng Tạng Sớ (誦藏疏), ghi rằng: “Đệ tử Nguyễn Thị Viễn, Pháp danh Hồng Mậu, tự Diệu Ân, Ất Mão niên, thất nguyệt muội nhật thời sanh, hạnh canh lục thập lục tuế (弟子阮氏遠法名紅茂字妙恩、乙卯年七月昧日時生、行庚六十六歳, đệ tử Nguyễn Thị Viễn, pháp danh Hồng Mậu, tự Diệu Ân, sanh giờ ngày không rõ, tháng 7 năm Ất Mão [1855, Tự Đức thứ 4], 66 tuổi).” Nếu cọng tuổi đương thời của Phật tử nầy với năm sinh, sẽ có là 1921 (Tân Dậu, Khải Định thứ 6).

Như vậy chúng ta có thể xác định được niên đại của văn bản Công Văn thủ bút của Tổ Giác Tiên (覺先, 1880-1936) là trong khoảng thời gian trước sau năm 1920. Lúc đó, ngài khoảng 41 tuổi.

Về nội dung

Nội dung chính của thư tịch nầy tập trung ở các lòng văn Sớ, Điệp, Hịch, Trạng, v.v., dùng trong các trai đàn đương thời. Ngoài ra, còn có một số văn thư khác không kém phần quan trọng và lý thú như bài Bia Minh Tháp cho Hòa Thượng Vĩnh Gia, Nghi Khai Quang, Cách xưng hô các tháng trong năm, v.v. Cho nên, nội dung được chia làm mấy phần như sau:

  1. Câu Đối Các Án Thờ: phần nầy giới thiệu nội dung những câu đối được treo tại các án thờ trong các đàn tràng Chẩn Tế Âm Linh Cô Hồn, Giải Oan Bạt Độ, v.v. Nếu căn cứ theo nội dung câu đối trong phần nầy, trong một Đại Trai Đàn ít nhất phải có ít nhất 8 bàn chính, gồm phương Đông, phương Nam, phương Tây, phương Bắc, Trung ương, Địa Tạng, Giác Hoa, Tiêu Diện; và nếu y cứ theo Đồ Hình Đàn Tràng Chẩn Tế (sau phần Trai Đàn Phẩm Vật Hóa Hạng), đương thời một Đại Trai Đàn thì phải thiết đủ 25 bàn. Tỷ dụ như câu đối cho bàn thờ phương Đông (Phật A Súc) là “Thanh Liên Bất Động thường an ổn, bích hải ba trừng mỗi tự minh (青蓮不動常安穩、碧海波澄毎自明, Sen Xanh Bất Động thường an ổn, biển lặng sóng yên tự sáng trong)”; hay câu ở bàn thờ Địa Tạng là “Bảo châu chiếu triệt Thiên Đường lộ, kim tích xao khai Địa Ngục môn (寶珠炤徹天堂路、金錫敲開地獄門, châu báu chiếu khắp Thiên Đường nẻo, Tích Trượng gõ toang Địa Ngục môn)”, v.v.
  2. Bài Bia Minh Tháp Hòa Thượng Vĩnh Gia: đây là bài văn Bia Minh do ngài Huệ Pháp (慧法, 1871-1927), chùa Thiên Hưng, soạn cho ngài Vĩnh Gia (永嘉, 1840-1918) ở Tổ Đình Phước Lâm, Hội An, với dòng chữ: “Xuân Kinh Thiên Hưng tự Thích Huệ Pháp bái chí, môn nhân đồng bái lập(春京天興寺釋慧法拜識、門人同拜立, Thích Huệ Pháp chùa Thiên Hưng, kinh đô Huế kính ghi. Môn đồ cùng bái lạy dựng bia).” Những điểm khác nhau giữa bản văn bia tại ngôi tháp của ngài Vĩnh Gia với bài văn bia nầy, đã được tham khảo trong phần đối chiếu. Ngoài ra, có 2 lý do tại sao bài Bia Minh do ngài Huệ Pháp soạn lại có trong thư tịch nầy:

a. Ngài Huệ Pháp được xem như là ân sư của Tổ Giác Tiên, vì khi “ngài Huệ Pháp mở đạo tràng giảng kinh ở chùa Thiên Hưng, Hòa Thượng Giác Tiên đã đem đệ tử và chính ngài ra dự nghe. Ngài Huệ Pháp đã nhận được ngài Giác Tiên là bậc túc căn thâm hậu, đủ sức xiển dương Phật pháp cho kẻ hậu tấn” (Thích Hải Ấn và Hà Xuân Liêm: Lịch Sử Phật Giáo Xứ Huế. Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, 2001, tr. 42). Vì vậy, hiện tại ở nhà Tây của Chùa Trúc Lâm, nơi xưa kia chính Tổ Giác Tiên cũng như Hòa Thượng Mật Hiển đã từng trú xứ một thời, có treo hai tấm chân dung của ngài Huệ Pháp và ngài Tâm Tịnh (bổn sư của Tổ Giác Tiên). Có lẽ để tưởng nhớ thâm ân của ngài Huệ Pháp, người soạn bài Bia Minh nầy, nên Tổ Giác Tiên, đã thâu lục vào thư tịch nầy.

b. Lý do thứ hai cũng không kém phần quan trọng là ngài Vĩnh Gia chính là Đàn Đầu Hòa Thượng trong Đại Giới Đàn tại Chùa Phước Lâm, được tổ chức vào ngày mồng 8 tháng 3 năm Canh Tuất (1910, Duy Tân thứ 4). Căn cứ vào bản Hộ Giới Điệp hiện tồn tại Chùa Trúc Lâm, trong Đại Giới Đàn nầy, Yết Ma A Xà Lê là ngài Tâm Truyền (心傳), Giáo Thọ A Xà Lê là ngài Hoằng Phú (弘覆), 7 vị Tôn Chứng A Xà Lê theo thứ tự gồm các ngài Tâm Tĩnh (心靜), Huệ Giác (慧覺), Huệ Minh (慧明), Phước Điền (福田), Hoằng Tĩnh (弘靜), Huệ Pháp (慧法), Hoằng Chương (弘章). Như vậy, ngài Huệ Pháp là Tôn Chứng A Xà Lê thứ 6. Có lẽ, để tri ân vị Đàn Đầu Hòa Thượng truyền trao giới pháp, Tổ Giác Tiên đã sao chép và đưa bài Bia Minh vào đây.

  1. Bài Từ Phó Chúc: đây là bài Từ phó chúc của Hòa Thượng Tịnh Nhãn (淨眼, ?-1924) chùa Tường Vân (祥雲寺) truyền trao chức Trú Trì lại cho pháp đệ Tịnh Hạnh (淨行, 1889-1933). Đây cũng là văn bản rất lý thú để khẳng định rằng ngài Tịnh Nhãn đã từng nhậm chức Trú Trì chùa Tường Vân dù có lâu hay không. Vấn đề nầy, cũng được luận giải rõ ràng trong nội dung chính. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra ở đây là tại sao bài Từ Phó Chúc của ngài Tịnh Nhãn lại có mặt trong thư tịch nầy. Phải chăng Tổ Giác Tiên đã từng có mối thâm giao hay ân nghĩa gì đó với ngài ? Có một vài nhận định như sau:

a. Nếu xét về tuổi tác thì ngài Tịnh Hạnh có thể đồng hàng với Tổ Giác Tiên. Trong bức hình vẽ đề dòng chữ “Phật Giáo Việt Nam Phục Hưng Trong Thời Mạt Pháp 1930” hiện đang treo tại nhà Tây Chùa Trúc Lâm, có hình của các ngài (từ trái sang phải, ngồi) là Hòa Thượng Giác Nhiên chùa Thuyền Tôn, Hòa Thượng Giác Tiên chùa Trúc Lâm, Quốc Sư Phước Huệ chùa Thập Tháp, Hòa Thượng Tịnh Hạnh chùa Tường Vân, Hòa Thượng Tịnh Khiết chùa Tường Vân. Còn ngài Tịnh Nhãn thì có thể lớn hơn. Điều nầy có thể thấy rõ khi đọc quyển 1 của bộ Hàm Long Sơn Chí (含龍山志), phần Tường Vân Tự Tôn Chứng A Xà Lê Pháp Từ (祥雲寺尊證阿闍梨法嗣), có nêu ra 4 vị Pháp từ của Hòa Thượng Tôn Chứng Chùa Tường Vân là Thanh Thái Phước Chỉ (清泰福祉, 1858-1921), theo thứ tự là (1) Đại Sư Trừng Thanh (澄清), tự Hiền Lương (賢良), hiệu Tịnh Nhãn (淨眼); (2) Đại Sư Trừng Thiệm (澄贍), tự Phổ Tế (普濟), hiệu Tịnh Tạng (淨藏); (3) Đại Sư Trừng Diên (澄延), tự Cáo Tạ (告謝), hiệu Tịnh Viên (淨圓); (4) Đại Sư Trừng Thái (澄泰), tự Quang Thư (光舒), hiệu Tịnh Hương (淨香). Thư tịch nầy còn ghi lại bài kệ phó chúc cho Đại Sư Tịnh Nhãn. Và trong đó không đề cập đến ngài Tịnh Hạnh. Trường hợp của Tổ Giác Tiên cũng chỉ được nhắc đến với tục danh, pháp danh mà thôi, chứ không có kệ truyền thừa.

b. Trong khi thâu lục tư liệu liên quan đến tác phẩm nầy, biên dịch giả may mắn biết được tấm chân dung của ngài Tịnh Nhãn, hiện đang tôn thờ tại Chùa Tường Vân. Tấm hình chụp ngài đắp y hậu gấm, đội mũ Tỳ Lư Địa Tạng. Điều nầy cho biết rằng, lúc sinh thời ngài là người có thể chuyên về nghi lễ. Với điểm nầy, chúng ta có thể tìm thấy mối quan hệ nào đó giữa ngài với Tổ Giác Tiên thông qua bình diện nghi lễ; và có phải chăng Tổ Giác Tiên đã từng thọ giáo về nghi lễ với ngài ? Nếu sự thật như vậy, bài Từ Phó Chúc có mặt trong tác phẩm nầy cũng hợp lý vậy.

  1. Nghi Khai Quang: phần nầy như là bài Pháp Ngữ tuyên xướng trong khi tiến hành Lễ Khai Quang, cũng rất giá trị, không hề thấy trong các bản Công Văn khác.
  2. Cách Xưng Hô Các Tháng Trong Năm: điểm tương đồng của phần nầy với bản Hán ngữ Phật Môn Giản Lược Công Văn Thiện Bản (佛門簡略攻文善本, ghi Phật Lịch 2510, ngày mồng 8 tháng 2 năm Bính Ngọ [1966]) của cố Hòa Thượng Thích Tâm Giải (釋心解), nguyên trú trì Chùa Từ Quang (慈光寺), thành phố Huế, là giới thiệu cách xưng hô các tháng rất văn từ, hoa mỹ, như tháng Giêng là “Chánh nguyệt, thần duy Dần Nguyệt, tiết giới Mạnh Xuân, liểu đĩnh hoàng kim, mai khai bạch ngọc (正月、辰維寅月、節屆孟春、柳錠黃金、梅開白玉, tháng Giêng, thời vào tháng Dần, tiết thuộc Mạnh Xuân [đầu Xuân], Liễu dệt vàng ròng, Mai bày ngọc trắng).” Hay tháng 5 là “Ngũ nguyệt: Thần duy Bồ Nguyệt, tiết giới Đoan Dương, lựu hỏa thư đơn, ngải kỳ dương lục (五月、辰維蒲月、節屆端陽、榴火舒丹、艾旗楊綠, tháng Năm, thời vào tháng Bồ, tiết thuộc Đoan Dương [giữa Hạ], hoa Lựu đỏ hoe, ngải cờ màu lục)”, v.v. Nhưng đặc biệt, chỉ trong bản Công Văncủa Tổ Giác Tiên mới có phần sau với các văn từ xưng hô các tháng rất mới lạ, như tháng Hai là Giáp Chung (夾鐘), tháng Ba là Cô Tẩy (姑洗), tháng Tư là Trọng Lữ (仲呂), v.v. Đây là phần có giá trị lớn về mặt văn học.
  3. Các Lòng Văn Sớ: nội dung chương nầy có thể chia ra như sau:

1. Các văn Sớ, Điệp, Biểu, Dẫn, Hịch, v.v., dùng cho các Đại Trai Đàn, như Hoàng Đế Nhị Tôn Khai Kinh Sớ, Đồng Khánh Hoàng Đế Thỉnh Điệp, Thủy Sám Hoàn Quyển Biểu, Cáo Đẩu Văn, Ngoại Từ Bạt Độ Vong Linh Hịch, Đạo Tràng Bảng, v.v. Đặc biệt, một số lòng văn hầu như hiện tại ít thấy như Tịnh Trù Điệp, Khai Đàn Kết Giới Tứ Thiên Vương Hịch, v.v. Thêm vào đó, Tổ còn chỉ dẫn rất nhiều chi tiết cụ thể mà ta thường xem là dĩ nhiên, như về nội dung cách ghi các lá phan của đàn tràng như thế nào, các phẩm vật cần thiết cho các trai đàn, nghi thức cúng lễ Hưng Tác trước khi chính thức khai kinh đàn tràng, v.v.

2. Từ lòng văn số 39 đến 54 là nội dung các văn Sớ, Điệp dâng cúng cho vị thầy đã viên tịch, như Trai Tuần Tôn Sư Cúng Phật Sớ, Quải Chân Dung Sớ, Tạ Thổ Trạng, Thí Thực Điệp, v.v. Tất cả đều do Hòa Thượng Thích Huệ Pháp, Trú Trì chùa Diệu Đế soạn. Các lòng văn nầy có nội dung trùng khớp với các văn bản mà biên dịch giả đang có như Thiền Môn Chánh Độ Viên Tịch Khoa Nghi (禪門正度圓寂科儀, bản chép tay Hán ngữ, không rõ năm và tác giả), Tống Tăng Thiên Hóa Nghi Tiết Sớ Thức (送僧遷化儀節疏式, bản vi tính Hán ngữ, không rõ năm và tác giả), v.v.; tuy nhiên, các bản nầy không ghi rõ tác giả là ai. Thông qua thông tin “Diệu Đế tự Trú trì Thích Huệ Pháp yếu soạn (妙諦寺住持釋慧法要撰)” ghi ở đây, chúng ta đã nhận ra tác giả là ai rồi. Lại nữa, nội dung các văn sớ trong đây rất súc tích, văn chương lưu loát, ngữ cú tài tình, không kém những pháp ngữ trong Thiền học Trung hoa. Tỷ dụ như đoạn văn “giản tảo khê tần, liêu biểu tiến tu chi lễ(澗藻溪蘋、聊表薦羞之禮, rong suối cỏ khe, tạm gọi cúng dâng mọn lễ)” của Cúng Tôn Sư Phát Hành Sớ, được tìm thấy trong Thiền Lâm Sớ Ngữ Khảo Chứng (Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1252) quyển 1, phần Niết Bàn Nhật Niệm Tụng Bạch Văn), trong Thích Ca Như Lai Niết Bàn Lễ Tán Văn(Taishō, Vol. 46, No. 1947), và trong Bách Trượng Thanh Quy Chứng Nghĩa Ký (Tục Tạng Kinh, Vol. 63, No. 1244) quyển 3, phần Phật Niết Bàn. Hay đoạn văn “Tích hiện Tây Thiên, thiệu Giác Hoàng chi tông duệ; hóa khai Đông Độ, phá nghĩa học ư cao hoang; khế diệu đạo dĩ vong ngôn, chỉ nhân tâm nhi thành Phật” trong Yết Tổ Thiên Quan Nhập Tháp Sớ số 43, được tìm thấy trong Bách Trượng Thanh Quy Chứng Nghĩa Ký (Tục Tạng Kinh tập 63, mục số 1244) quyển 4, phần Sơ Tổ Đạt Ma Kỵ. Tuy thứ tự câu văn và nội dung của các bản văn so sánh này có khác, nhưng điều đó chứng tỏ rằng, tác giả đã từng đọc suốt các bộ Đại Tạng, làu thông các điển tịch Phật học Trung hoa, v.v., mới có thể dùng ngữ cú và văn chương tuyệt diệu như vậy.

3. Một số văn cúng đặc biệt hiếm thấy như Đương Kim Chúc Thọ Thù Nguyện Sớ (當今祝壽酬願疏, Sớ Cúng Hoàn Nguyện Chúc Thọ Đương Kim Hoàng Đế) số 55, Kỳ Đảo Bảo An Sớ (祈禱保安疏, Sớ Cúng Cầu Đảo Bình An) số 56, Tụng Tạng Sớ (誦藏疏, Sớ Tụng Đại Tạng Kinh) số 60, Dương Điệp (陽牒, Điệp Dương) số 61, Âm Điệp (陰牒, Điệp Âm) số 62, Khai Giới Đàn Sớ (開戒壇疏, Sớ Khai Giới Đàn) số 64, Truyền Pháp Sớ (傳法疏, Sớ Truyền Pháp) số 65, Đại Giá Như Tây Hồi Loan Hoàn Kinh Chúc Hỗ Sớ (大駕如西回鑾完經祝嘏疏, Sớ Cúng Hoàn Kinh Chúc Mừng Thọ Hoàng Đế Đại Giá Đi Tây Trở Về) số 66.

4. Ba mẫu văn cúng Thiên Y Thánh Mẫu Sớ (天依聖母疏) số 57, Huệ Nam Điện Tứ Phủ Sớ(惠南殿四府疏) số 58, Huệ Nam Điện Đình Cúng Thiên Sớ (惠南殿庭供天疏) số 59, là các văn Sớ cúng tại Điện Hòn Chén (còn gọi là Huệ Nam Điện), được soạn với sắc chỉ của triều đình. Ngôi điện nầy thờ Thánh Mẫu Thiên Y A Na của Đạo Mẫu Việt Nam. Thông thường, các văn cúng tại đây lẽ ra do các tu sĩ Đạo Giáo soạn; nhưng ở đây lại do tu sĩ Phật giáo soạn. Đó là điểm đặc biệt cần lưu ý. Người soạn các văn bản nầy không ai khác là Tổ Giác Tiên. Như vậy, chứng tỏ ngài rất tinh thông thế học lẫn Phật học, vì vậy triều đình mới đặc biệt ban sắc chỉ soạn những văn cúng như thế nầy.

5. Điểm đáng lưu ý ở đây là đồ hình Đàn Tràng Chẩn Tế số 38. Đây là một tài liệu rất quý giá để giúp học giả nghiên cứu về Đàn Tràng Chẩn Tế Âm Linh Cô Hồn trong kho tàng nghi lễ Phật Giáo Việt Nam. Như đã đề cập ở trên, đồ hình Trai đàn hiện tại chỉ có trên dưới 8 bàn; thế mà, căn cứ vào đồ hình nầy thì lên đến 25 bàn. Cụ thể là các bàn: Bạch Văn, Giác Hoa, Trung Ương, Bảo Tạng, Ngọc Hoàng Điện, Địa Tạng, Hộc Thực, Thiên Đạo, Nhân Đạo, Tu La, Trì Quốc, Đa Văn, Súc Sanh, Ngạ Quỷ, Địa Ngục, Quảng Mục, Tăng Trưởng, Bắc Uất Đơn Việt, Thập Điện, Tứ Phủ, Tây Cu Da Ni, Đông Phất Vu Đãi, Thập Điện, Tứ Phủ, Nam Diêm Phù Đề. Điều nầy cho thấy các Trai đàn ngày xưa được bày thiết rất trang nghiêm, đồ sộ, long trọng, chi tiết và đầy đủ, có sự chuẩn bị thật nghiêm cẩn từ hình thức lẫn nội dung. Và cũng được khẳng định ngay từ đầu của các lòng văn Sớ : “Tư chiếu quan sơn chư tự, hợp đồng phân bổ ứng sự, cập dự tiên diễn tập trai nghi, yếu đắc tường tất thận trọng (兹炤官山諸寺合同分補應事、及預先演習齋儀、要得詳悉愼重, nay chiếu theo các chùa quan, cùng nhau phân chia công việc cho thích hợp, và diễn tập các nghi thức cúng trước, chủ yếu cần phải rõ ràng, thận trọng).” Đoạn văn “chủ yếu cần phải rõ ràng, thận trọng” cho chúng ta thấy sự uy nghiêm, linh thiêng của các Đại Trai Đàn như thế nào; còn “diễn tập các nghi thức cúng trước” vừa cho thấy các Trai đàn ở vương phủ rất hệ trọng, không được sai sót, chểnh mãng; nhưng mặt khác, cũng khẳng định sự nghiêm tịnh về tâm linh để chuẩn bị bước vào nghi thức trọng đại cầu cho âm siêu dương thái.

VII. Tam Thập Lục Bộ Quỷ Vương Tánh Danh: nội dung phần nầy nêu rõ tên họ 36 vị quỷ vương, thường được nhắc đến trong các Sớ Điệp cúng Thí Thực.

VIII. Phụng Vong Linh Đối Liễn: đây cũng là tư liệu bổ ích về những câu đối liễn thiết trí tại bàn thờ vong linh.

Một điểm rất quan trọng giúp biên dịch giả cố gắng giới thiệu nội dung của thư tịch nầy là việc xác định niên đại sáng lập Chùa Trúc Lâm. Văn bản ghi rõ rằng: Duy Tân nhị niên, tuế thứ Mậu Thân thập nhất nguyệt cát nhật khải kiến Trúc Lâm Tự (維新二年、歲次戊申十一月吉日啟建竹林寺, Chùa Trúc Lâm được kiến lập vào ngày tốt tháng 11 năm Mậu Thân [1908], Duy Tân thứ 2).”

Về niên đại thành lập của chùa, hiện tại có nhiều thuyết khác nhau như trong hai cuốn Những Ngôi Chùa Nổi Tiếng Việt Nam (tr. 442) của Võ Văn Tường và Danh Lam Xứ Huế (tr. 312) của Trần Đại Vinh, Nguyễn Hữu Thông, Lê Văn Sách đều cho biết là năm 1903; còn theo cuốn Lịch Sử Phật Giáo Xứ Huế (tr. 426) của Thích Hải Ấn và Hà Xuân Liêm thì ghi là năm 1913; bên cạnh đó tấm bản bằng tiếng Việt giới thiệu về chùa đang được treo trước Nhà Tổ thì ghi là 1907; và cuốn Trúc Lâm Thiền Phái Tại Huế (tr. 71) của Thích Tín Nghĩa thì ghi là chùa được hình thành vào năm Duy Tân thứ 3 (1902). Trước những con số khác nhau như vậy, người viết không biết tin cậy vào bản nào cả. Nếu xét về mặt tư liệu thì ngay cả trong bản văn bia đáng tin cậy nhất là Khai Sơn Trúc Lâm Đại Thánh Tự Sáng Lập An Nam Phật Học Hội Chứng Minh Đạo Sư Trừng Thành Chí Thông Giác Tiên Hòa Thượng Chí Minh (開山竹林大聖寺創立安南佛學會證明導師澄誠至通覺先和尚誌銘) hiện đang còn trước tháp của ngài Tổ khai sơn chùa cũng không có đề cập đến niên hiệu thành lập chùa. Còn sử liệu liên quan đến Sư Bà Diên Trường, người đáp ứng chí nguyện muốn lập am tu hành của Hòa Thượng Giác Tiên nên cung thỉnh ngài đến làm Tổ khai sơn chùa, cũng không có. Thế thì năm thành lập 1903 là căn cứ vào sử liệu nào ? Hay như lời ghi trong cuốn Lịch Sử Phật Giáo Xứ Huế của Thích Hải Ấn và Hà Xuân Liêm cho rằng: “Vào khoảng năm Duy Tân thứ 7, Quý Sửu (1913), Tỳ kheo ni, người danh gia vọng tộc họ Hồ, có pháp danh Thanh Linh, tự Diên Trường vừa dựng xong chùa Trúc Lâm ở Dương Xuân Thượng, Ni sư đã đến chùa Thiếu Lâm xin với Tâm Tịnh Đại Sư cho thỉnh ngài Giác Tiên về làm vị khai sơn tọa chủ chùa ấy” (tr. 426) thì căn cứ vào đâu ? Còn cuốn Trúc Lâm Thiền Phái Tại Huế của Thích Tín Nghĩa ghi là “năm Duy Tân thứ 3 (1902)” thì không đúng vì nếu là năm thứ 3 đời vua Duy Tân (1907-1916) phải là năm 1909 chứ không phải là 1902. Ngoài ra, còn có một thông tin khác do Hòa Thượng Thích Lưu Hòa, Tri Sự của chùa, cho biết rằng khi đại trùng tu chùa lần thứ 4 vào năm Giáp Tuất (1994) thì đã đặp bỏ đi bức hoành đề hàng chữ “Như Thị Trang Nghiêm (如是莊嚴)” bằng chữ Hán với niên hiệu ghi là “Duy Tân tam niên (維新三年, năm thứ 3 [1909] đời vua Duy Tân). Như vậy, thông tin nầy có thể khớp với tài liệu của tác giả Thích Tín Nghĩa. May mắn thay, với thủ bút của chính ngài Giác Tiên qua tác phẩm nầy, chúng ta có thể biết được năm kiến lập Chùa Trúc Lâm là 1908.

Về tác giả

Sau khi biết rõ nội dung của thư tịch nầy, chúng ta có thể suy ra tác giả các lòng văn cúng cũng như nghi thức, v.v., ngoại trừ ngài Huệ Pháp soạn những văn cúng cho tôn sư viên tịch; vị đó chính là Tổ Giác Tiên.

Trong phần giới thiệu về chư vị tôn túc chứng minh cho các Đại Trai Đàn tại Kiên Thái Vương Từ, Quận Công Từ, có đoạn cho biết rõ các vị cao đức đương thời tại xứ Huế là Hòa Thượng Thanh Thái Phước Chỉ chùa Tường Vân; ngài Tăng Cang chùa Thiên Mụ; Hòa Thượng Thích Tâm Tịnh, Tăng Cang chùa Diệu Đế; Hòa Thượng Thích Tâm Khoan, Trú Trì chùa Báo Quốc; và Hòa Thượng Thích Tuệ Pháp, Trú Trì chùa Diệu Đế. Trong đây không ghi rõ ai là vị Công Văn cho các Đại Trai Đàn ấy. Thầy Công Văn là người đóng vai trò rất quan trọng sau vị Chủ Sám, chuyên trách về các văn cúng, thiết trí đàn tràng, v.v., cho thật chu tất, hoàn bị; cho nên, vị nầy cũng góp phần lớn cho đàn tràng được viên mãn tốt đẹp. Với nội dung vừa nêu trên, chúng ta có thể suy định được rằng người làm Công Văn cho các Đại Trai Đàn ấy chính là Tổ Giác Tiên.

Các nơi tổ chức trai đàn

Thông qua các văn Sớ, Điệp, Hịch, v.v., một số nơi diễn ra các trai đàn cũng như lễ cúng cầu nguyện có thể liệt kê như sau:

  1. Từ Đường Thuần Nghị Kiên Thái Vương, hiện tọa lạc tại số 179 Phan Đình Phùng, Thành phố Huế.
  2. Từ Đường Quận Công.
  3. Chùa Báo Quốc, tọa lạc trên đồi Hàm Long, ở đường Báo Quốc, thuộc phường Phường Đúc, Thành phố Huế.
  4. Chùa Diệu Đế, tọa lạc tại số 100B đường Bạch Đằng, phường Phú Cát, gần cầu Gia Hội, Thành phố Huế.
  5. Chùa Tây Thiên, tọa lạc ở góc Đông Nam của Đàn Nam Giao, thuộc địa phận xã Thủy Xuân, Thành phố Huế.

Với những nhận định vừa trình bày ở trên, có thể nói rằng đây là một tư liệu rất quý giá, góp phần to lớn cho việc nghiên cứu về nghi lễ Phật Giáo Việt Nam, về tín ngưỡng Phật Giáo nói riêng và tôn giáo nói chung của triều đình nhà Nguyễn vào đầu thế kỷ 20.

Để hoàn thành công trình biên dịch nầy, có nhiều sự đóng góp, quan tâm, chiếu cố, động viên của rất nhiều thiện tri thức. Trước hết, dịch giả xin chân thành tri ân pháp hữu Tuệ Hạnh (tiến sĩ Phật Điển Hành Tư) đã luôn ưu ái, dành nhiều thì giờ để cẩn độc, hiệu đính cảo bản và viết lời giới thiệu. Thành kính tri ân Hòa Thượng Thích Như Minh, Trú Trì Chùa Việt Nam, Thành phố Los Angeles, Mỹ Quốc, luôn động viên, khích lệ và tạo mọi điều kiện thuận duyên trợ giúp cho dịch giả an tâm mà hoàn tất tác phẩm nầy. Xin bày tỏ lời cám ơn với đạo hữu Thanh Nguyên và Thầy Thích Tâm Chiếu, đã hoan hỷ cung cấp một số tài liệu, hình ảnh, v.v., liên quan đến công trình này; đặc biệt đạo hữu Thanh Nguyên đã góp công rất nhiều trong phần trình bày toàn bộ để tác phẩm được có một hình thức trang trọng xứng đáng là một kỳ trân trong gia tài văn học nghệ thuật Phật Giáo Việt Nam.

Cuối cùng, dịch giả chân thành tri ân tất cả quý thiện nam, tín nữ Phật tử xa gần đã thường xuyên quan tâm, giúp đỡ về mọi mặt để cho tác phẩm nầy được hoàn mãn.

Thành kính dâng lên Tổ sư với tất cả tấm lòng kính ngưỡng của kẻ hậu học như con, và mong sao thông qua dịch phẩm nầy có thể làm sáng danh ngài cho hậu thế.

 

Tỳ kheo Thích Nguyên Tâm

Cẩn bút,

Chùa Việt Nam, Los Angeles, Mỹ quốc,

Đầu Xuân Quý Tỵ, 2013